Chết não là điều kiện tiên quyết để thực hiện hiến tạng sau khi qua đời ở hầu hết các quốc gia. Tuy nhiên, quy trình xác định một người chết não để tiến tới hiến tạng không giống nhau giữa các nước. Vậy thế giới đang áp dụng những tiêu chí nào và làm sao để bảo đảm tính chính xác, minh bạch trong quá trình đánh giá?
Chết não được định nghĩa là ngừng không hồi phục tất cả các chức năng não bao gồm cả thân não hay chết toàn bộ não, định nghĩa này được áp dụng ở đa số các nước trên thế giới. Nhưng Vương quốc Anh và một số nước khác, định nghĩa chết não là ngừng không hồi phục chức năng thân não hay chết thân não.
Ở Việt Nam, chết não là tình trạng toàn bộ não bị tổn thương nặng, chức năng của não đã ngừng hoạt động và người chết não không thể sống lại được. Để chẩn đoán xác định chết não, người ta đã đưa ra các tiêu chuẩn lâm sàng, tiêu chuẩn cận lâm sàng, tiêu chuẩn thời gian chẩn đoán và tiêu chuẩn số người tham gia chẩn đoán chết não. Tuy nhiên, việc áp dụng các tiêu chuẩn này ở các nước trên thế giới lại có sự khác biệt rất đáng lưu ý.

Mỹ: Chết não đồng nghĩa tử vong về pháp lý
Tại Mỹ, khái niệm chết não được quy định trong Đạo luật Xác định Cái chết Thống nhất (UDDA) từ năm 1981. Theo đó, một người được coi là đã chết khi toàn bộ chức năng của não, gồm thân não, bị ngừng vĩnh viễn. Hướng dẫn lâm sàng của Hội Thần kinh học Mỹ cũng yêu cầu ba yếu tố: hôn mê không thể hồi phục, mất toàn bộ phản xạ thân não, không có khả năng tự thở trong xét nghiệm ngưng thở.
Trong trường hợp không thể kiểm tra rõ các yếu tố lâm sàng, bác sĩ có thể sử dụng xét nghiệm bổ trợ như điện não đồ (EEG) hoặc chụp mạch máu não. Tuy vậy, trên thực tế, quy trình xác định chết não tại Mỹ vẫn chủ yếu dựa vào đánh giá lâm sàng.
Anh: Tập trung vào thân não
Khác với Mỹ, Anh xác định chết não dựa trên chức năng của thân não. Bộ Y tế Anh từ năm 2008 đã hướng dẫn quy trình chẩn đoán chết thân não bao gồm khám lâm sàng bởi ít nhất hai bác sĩ độc lập, không liên quan đến quy trình ghép tạng. Các bước kiểm tra bao gồm đánh giá phản xạ ánh sáng, phản xạ nuốt, đáp ứng đau, và nghiệm pháp ngưng thở. Xét nghiệm hình ảnh chỉ được dùng nếu điều kiện lâm sàng không cho phép thực hiện đầy đủ quy trình khám.
Tại Anh, khi thân não không còn chức năng và nguyên nhân tổn thương được xác định là không thể phục hồi, bệnh nhân sẽ được tuyên bố tử vong, ngay cả khi phần vỏ não vẫn còn tín hiệu hoạt động nhẹ trong một số xét nghiệm. Đây là một điểm khác biệt rõ rệt với định nghĩa toàn bộ não như tại Mỹ.
Tính đơn giản trong quy trình giúp việc xác định chết não diễn ra nhanh chóng. Tuy nhiên, chính vì không yêu cầu xét nghiệm hình ảnh bắt buộc, mô hình của Anh cũng từng gây tranh cãi trong các ca pháp lý liên quan đến quyền rút ống thở.
Nhật Bản: Yêu cầu đồng thuận hiến tạng
Tại Nhật Bản, một người chỉ được coi là chết não khi đáp ứng hai điều kiện: chẩn đoán y khoa và đồng thuận hiến tạng. Điều này có nghĩa, nếu không có nguyện vọng hiến tạng từ trước hoặc không có sự đồng ý của gia đình, bác sĩ sẽ không tuyên bố chết não, dù về mặt y học người đó đã đủ điều kiện.
Tiêu chí chuyên môn tại Nhật Bản rất nghiêm ngặt. Bác sĩ phải thực hiện đầy đủ cả điện não đồ, đo lưu lượng máu não và đánh giá lâm sàng trong nhiều giờ. Thời gian giữa hai lần kiểm tra ít nhất là 6 tiếng, nhằm giảm thiểu khả năng nhầm lẫn hoặc sai lệch do thuốc hoặc yếu tố ngoại cảnh.
Cách tiếp cận của Nhật đặt yếu tố đạo đức và niềm tin cộng đồng lên hàng đầu. Trong xã hội Nhật Bản, nơi vấn đề hiến tạng vẫn còn nhạy cảm về mặt văn hóa và tôn giáo, việc xác định chết não không chỉ là một quyết định y học, mà còn gắn liền với các tiêu chuẩn đạo đức khắt khe.
Trung Quốc: Tiêu chuẩn quốc gia với hội chẩn bắt buộc
Năm 2013, Trung Quốc ban hành tiêu chuẩn quốc gia để xác định chết não, gồm 6 bước bắt buộc. Trước tiên, bác sĩ phải xác định rõ nguyên nhân gây tổn thương não và loại trừ các yếu tố có thể hồi phục như hạ thân nhiệt hay ngộ độc thuốc. Sau đó, họ tiến hành đánh giá lâm sàng và thực hiện nghiệm pháp ngưng thở để xác nhận bệnh nhân mất toàn bộ phản xạ thân não và không thể tự thở.
Bước tiếp theo yêu cầu thực hiện ít nhất hai trong ba xét nghiệm hỗ trợ gồm: điện não đồ (EEG), điện thế cảm giác gợi lên (SEP) và siêu âm Doppler xuyên sọ (TCD). Toàn bộ quy trình được lặp lại sau tối thiểu 12 giờ và phải do ít nhất ba bác sĩ độc lập hội chẩn.
Chỉ khi cả ba bác sĩ thống nhất kết luận sau toàn bộ quy trình, bệnh nhân mới được tuyên bố chết não. Đây là một trong những mô hình nghiêm ngặt nhất thế giới.
Nhờ kiểm tra chặt chẽ, Trung Quốc hầu như không ghi nhận trường hợp nhầm lẫn chết não trong quá trình hiến tạng. Tuy nhiên, hệ thống này vẫn tồn tại những lỗ hổng nghiêm trọng trong khâu giám sát thực thi.
Sự khác biệt trong cách xác định chết não giữa các quốc gia phản ánh nhiều yếu tố: trình độ y học, đặc điểm pháp lý và quan niệm đạo đức về sự sống.
“Chết não là khái niệm y học nhưng lại được gán cho vai trò pháp lý. Khi ranh giới giữa sống và chết trở nên mơ hồ, mọi quyết định cần đặt trên nền tảng thận trọng tuyệt đối”, tiến sĩ Robert Truog, Giám đốc Trung tâm Đạo đức Sinh học tại Đại học Harvard, nhận định.
Tại Mỹ, sau các vụ việc gây tranh cãi, giới lập pháp đang thúc đẩy các cải cách sâu rộng đối với mạng lưới phân phối nội tạng, trong đó có xem xét lại tiêu chí chết não.
Việt Nam: Ba lần xác định chết não – tiêu chí nghiêm ngặt trước ca hiến tạng
Theo kếtquả khảo sát của Wijdicks tại 80 nước trên thế giới năm 2002 thì có đến 60% số nước thực hiện chẩn đoán chết não chỉ bằng lâm sàng là đủ. Tiêu chuẩn cận lâm sàng chỉ sử dụng để hỗ trợ khẳng định chết não khi: Hoặc muốn rút ngắn thời gian chẩn đoán chết não; hoặc lâm sàng không đủ chẩn đoán chết não do có yếu tố gây nhiễu hay những khó khăn không thể thực hiện đầy đủ các test lâm sàng chẩn đoán chết não.
Tại 40% số nước còn lại và Việt Nam, ngoài chẩn đoán lâm sàng chết não, bắt buộc phải có ít nhất một tiêu chuẩn cận lâm sàng hỗ trợ mới đủ khẳng định chết não. Mặt khác cũng theo Wijdicks và một số nghiên cứu khác thì tiêu chuẩn thời gian và tiêu chuẩn số người tham gia chẩn đoán chết não cũng rất khác nhau. Với các nước qui định phải tiến hành ≥ 2 lần chẩn đoán lâm sàng chết não thì khoảng thời gian giữa 2 lần dao động từ 2 – 72 giờ, một số nước không có qui định về khoảng thời gian này. Tiêu chuẩn số người tham gia chẩn đoán chết não thì với chỉ bác sỹ là phổ biến nhất, Vương quốc Anh yêu cầu phải 2 bác sỹ, một số đạo luật qui định bắt buộc 2 bác sỹ chỉ ở bệnh nhân được cân nhắc hiến tạng, các nước qui định ≥ 3 bác sỹ chỉ chiếm 16% trong đó có Việt Nam và 6% các nước còn lại không rõ qui định.
Việt Nam, chẩn đoán chết não phải được thực hiện theo luật số 75/2006/QH11 và Qui định của Bộ Y tế năm 2007. Luật này được xây dựng trên cơ sở tham khảo mô hình từ nhiều quốc gia. Sau gần 20 năm thực hiện, Bộ Y tế đang phối hợp với các bộ, ngành liên quan để sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nhằm tạo cơ chế thuận lợi, tăng cường nguồn tạng hiến, cứu sống nhiều bệnh nhân đang chờ ghép.
Luật quy định chết não là tình trạng toàn bộ não bị tổn thương nặng, mất hoàn toàn chức năng và không thể hồi phục. Việc xác định chết não là cơ sở pháp lý để tiến hành lấy mô, bộ phận cơ thể từ người đã đăng ký hiến tạng sau khi qua đời.
Việc xác định này không phải là một quyết định đơn lẻ, cần có ít nhất ba lần chẩn đoán để khẳng định tình trạng chết não lâm sàng. Mỗi lần chẩn đoán đều phải tuân thủ các tiêu chuẩn lâm sàng nghiêm ngặt và được thực hiện bởi một hội đồng chuyên môn độc lập.
Hội đồng này do người đứng đầu cơ sở y tế chỉ định, gồm 3 chuyên gia về hồi sức cấp cứu, thần kinh, phẫu thuật thần kinh hoặc giám định pháp y. Bác sĩ trực tiếp tham gia phẫu thuật ghép tạng hoặc đang điều trị cho người chết não không được tham gia nhóm này, nhằm đảm bảo tính khách quan và minh bạch.
Thời gian tối thiểu để xác định chết não là 12 giờ, tính từ khi người bệnh có đầy đủ các tiêu chuẩn lâm sàng và không có dấu hiệu hồi phục. Việc chẩn đoán chỉ được thực hiện tại các cơ sở y tế có khoa hồi sức cấp cứu, máy thở, máy phân tích khí máu và các điều kiện cần thiết khác theo quy định.
Các tiêu chuẩn lâm sàng để xác định chết não bao gồm:
Hôn mê sâu (Glasgow 3 điểm).
Đồng tử hai bên giãn trên 4 mm và mất phản xạ với ánh sáng.
Mất phản xạ giác mạc, ho khi kích thích phế quản.
Không có phản xạ đầu – mắt.
Mắt không quay khi bơm 50ml nước lạnh vào tai.
Mất khả năng tự thở khi bỏ máy thở.
Ngoài ra, cần sử dụng ít nhất một trong các cận lâm sàng như điện não đồ, chụp cắt lớp vi tính xuyên não, siêu âm Doppler xuyên sọ, chụp X-quang động mạch não, hoặc chụp đồng vị phóng xạ.
Hiện, pháp luật Việt Nam chỉ quy định về hiến và ghép mô tạng từ người hiến sống hoặc chết não, chưa có quy định về hiến khi chết tuần hoàn. Trong bối cảnh khan hiếm tạng hiến, để tận dụng tối đa nguồn tạng tiềm năng, nhiều nước đã nghiên cứu mô hình hiến khi chết tuần hoàn (tim ngừng đập). Để triển khai hình thức hiến tạng này, các quốc gia cần có quy định rõ ràng trong Luật hiến tạng của mình.
TH